Just another WordPress.com fantasy

  • new2
  • IMG_0724

Mới nhất

CHUYÊN ĐỀ SỐ 03:

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI – FDI – FOREIGN DIRECT INVESTMENT

1. Khái niệm:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn nước ngoài dài hạn của cá nhân hay doanh nghiệp đầu tư trực tiếp theo luật đầu tư nước ngoài tại các quốc gia nhằm tìm kiếm lợi nhuận bằng cách kết hợp bới nước chủ nhả để tiến hành sản xuất kinh doanh và lợi nhuận sẽ được chia theo tỷ lệ vốn đóng góp. Đây là loại hình di chuyển vốn quốc tế mà người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành đối tượng đầu tư. Nói cách khác, đầu tư trực tiếp là loại hình di chuyển vốn quốc tế có đặc trưng quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn chặt với nhau.

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

2. Đặc điểm:

– Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của mỗi quốc gia. Ví dụ Luật đầu tư nước ngoài tại VN quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.

– Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh và phải được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định.

2.1. Ưu điểm:

• Đối với nuóc xuất khẩu vốn (quốc gia đi đầu tư):

+ Tăng quy mô GNP.

+ Do đặc điểm của đầu tư là quyền sở hữu và quyền điều hành, quản lý vốn gắn liền với nhau nên vốn được sử dụng hợp lý đạt diệu quả cao, giảm những bất đồng , tranh chấp trong điều hành quản lý vốn.

+ Chủ đầu tư nước ngoài đưa cơ sở sản xuất tới gần vùng nguyên, nhiên liệu, lao động, khu vực tiêu thụ sản phẩm, nâng cao được lợi nhuận của vốn so với trong nước.

+ Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước sở tại (quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư). Bởi vì đầu tư trực tiếp tạo ra các đối tượng đầu tư ngay “trong lòng” các quốc gia tiếp nhận đầu tư.

+ Tận dụng chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư dẫn đến hiệu quả vốn đầu tư cao.

• Đối với nước tiếp nhận đầu tư

+ Tăng quy mô GDP, mở rộng cơ cấu kinh tế trong nước, tạo đà cho sự phát triển.

+ Làm tăng lượng cung vốn và khả năng tiếp nhận công nghệ, kỹ năng quản trị và thị trường.

+ Huy động được nguồn vốn ở mức độ tối đa. Bởi vì đầu tư trực tiếp chỉ quy định mức độ đóng góp vốn tối thiểu.

+ Đầu tư trực tiếp tạo điều kiện cho quốc gia tiếp nhận đầu tư khai thác tốt nhất những tiềm năng về vị trí địa lý, tài nguyên, thiên nhiên, lao động.

+ Đầu tư trực tiếp tạo điều kiện cho nước sở tại sử dụng có hiệu quả phẩn vốn góp của mình, nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

2.2. Nhược điểm

• Đối với quốc gia đi đầu tư: rủi ro đầu tư cao nếu môi trường kinh tế chính trị của quốc gia tiếp nhận đầu tư không ổn định

• Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư:

+ Xuất phát từ mục đích của đầu tư là lãi suất của vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh nên chủ đầu tư chỉ tập trung vào các ngành và vùng có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng đạt được mục đích trên. Điều đó thường dẫn đến hậu quả là cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đầu tư phát triển không đồng đều, mất cân đối. Ví dụ, tại VN, vốn đầu tư nước ngoài thường tập trung vào những ngành đem lại lợi nhuận cao như công nghiệp (công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến), dịch vụ tại những nơi như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu…

+ Nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn đến kiệt quệ, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng.

+ Nếu quốc gia tiếp nhận đầu tư không kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng là nơi tiếp nhận công nghệ, máy móc, thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lương lao động thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao; là nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh không cao ngay tại sân nhà và xuất khẩu của quốc gia đi đầu tư đang cần thay thế.

3. Các hình thức FDI:

3.1. Phân theo bản chất đầu tư

– Đầu tư phương tiện hoạt động

Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

– Mua lại và sáp nhập

Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.

3.2. Phân theo tính chất dòng vốn

-Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

-Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

– Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ :Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư

– Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.

– Vốn tìm kiếm hiệu quả : Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v…

– Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.

3.4. Các hình thức đầu tư FDI:

– Hợp đồng hợp tác kinh doanh

– Xí nghiệp liên doanh

– Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

– Khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung.

Theo bạn, tại VN hiện nay, trong 4 hình thức này, hình thức nào chiếm tỷ trọng cao nhất, hình thức nào có tỷ trọng vốn lớn nhất, hình thức nào được nhà đầu tư yêu thích nhất và hình thức nào được Việt Nam yêu thích nhất? Vì sao?

4. Xu hướng của đầu tư trực tiếp trên thế giới trong thời gian hiện nay

– Ngày nay, dòng chảy của vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu vàocác nước công nghiệp phát triển (OECD)

Theo bạn, điều này có nghịch lý hay không khi các nước thuộc OEDC là những nước nhiều vốn? Và xu hướng trên có đang thay đổi không và thay đổi như thế nào?

-Xu hướng giảm sút FDI bắt đầu chậm lại, tình hình trên là do những nguyên nhân sau: thứ nhất, kinh tế thế giới phục hồi chưa thật mạnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm cao kém sôi động ; thứ hai, thôn tính và sáp nhập (M&A) vẫn giảm. Hoạt động M&A của các nước thuộc Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) giảm cả về số lượng lẫn giá trị.

– Có sự thay đổi lớn về tương quan lực lượng giữa các quốc gia chủ đầu tư quốc tế. Trong suốt thế kỷ 20 tương quan lực lượng chủ đầu tư thế giới có sự biến động mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của các quốc gia và khu vực. Đầu thế kỷ 20, dẫn đầu thế giới về đầu tư nước ngoài là các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Hà Lan.Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mỹ dẫn đầu, đến cuối thế kỷ thì Nhật Bản vương lên vị trí hàng đầu. Ngoài ra, nhờ có sự thành công nhảy vọt trong lĩnh vực phát triển kinh tế của các quốc gia thuộc NICs cũng đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài và chiếm vị trí ngày càng lớn.

– Lĩnh vực đầu tư cũng có nhiều thay đổi. Từ lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông nghiệp và một số ngành chế biến nông sản nhằm mục đích sử dụng nguồn nhân công rẻ tại các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư, ở cuối thế kỷ này, các chủ đầu tư đã chuyển sang lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tài chính và các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao.

Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư là các nước đang phát triển, chủ đầu tư để đạt mục đích lợi nhuận cao và thời gian thu hồi vốn nhanh nên thưởng tập trung vào các lĩnh vực :

+ Các dự án vừa và nhỏ với khả năng thu hồi vốn nhanh để giảm thiểu rủi ro.

+ Các ngành khai thác tài nguyên chiến lược như dầu mỏ, than đá, quặng sắt, gỗ…

+ Các dự án cho phép tận dụng tối đa điều kiện ưu đãi của Luật đầu từ nước ngoài của các quốc gia tiếp nhận đầu tư. + Các ngành sử dụng nhiều lao động

+ Các ngành có thị trường tiêu thụ tại quốc gia tiếp nhận đầu tư để giảm thiểu thuế đánh vào hàng nhập khẩu. + Các ngành gây ô nhiễm môi trường.

– Dòng đầu tư gián tiếp đang bắt đầu hồi phục, theo IMF, WB, vốn đầu tư tư nhân ròng vào cổ phiếu và trái phiếu tại các nền kinh tế thị trường có chiều hướng tăng.

– Đầu tư mới sẽ thay thế sát nhập, Cơ quan xúc tiến và đầu tư của 106 nước cho rằng các Công ty xuyên quốc gia (TNCs) sẽ quan tâm đến đầu tư mới thay vì sát nhập vì:

+ Thứ nhất, lợi nhuận do M&A đem lại giảm sút, hiện nay các công ty lớn đã sát nhập gần hết do vậy chỉ còn các công ty nhỏ hoạt động ở những lĩnh vực ít hấp dẫn.

+ Thứ hai, các quốc gia ngày càng có những quy định chặt chẽ hơn đối với hoạt động M&A. Vì dụ, chính phủ Mỹ giải quyết vụ việc Microsoft.

– Vốn đầu tư vào các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, tăng nhanh. Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20 luôn cao và ổn định, nên châu Á trở thành khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Mặc khác khu vực này còn có nguồn lao động dồi dào với giá còn thấp và môi trường đầu tư được các quốc gia luon cải thiện, càng tạo nhiều hấp dẫn với nhà đầu tư.

5. FDI tại Việt Nam

Nhìn vào tình hình đầu tư tại nước ta trong những năm qua có những kết luận sau:

– Số lượng dự án, tổng vốn đầu tư, quy mô vốn của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đều tăng ở những năm đầu sau đó giảm. Hiện tượng trên là do:

+ Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á, các quốc gia có vốn đầu tư lớn vào VN thì lại là những quốc gia bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ cho nên khả năng đầu tư bị giảm sút.

+ Môi trường đầu tư của các quốc gia trong khu vực được cải thiện có sức hấp dẫn hơn VN

– FDI góp phần quan trng trong việc khắc phục tình trạng thiếu hụt vốn của nước ta. Nên kinh tế của nước ta trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung có tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm thấp ( thậm chí dưới 0); do đó ảnh hưởng rất lớn đến tích lũy và đầu tư. Từ sau khi đổi mới, tỷ lệ tiết kiệm được tăng lên nhưng còn rất thấp so với nhu vầu đầu tư. Mặt khác, chúng ta còn phải thanh toán nợ trong điều kiện thâm hụt ngân sách cao. Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sự nghiệp đổi mới của đất nước.

– Thông qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài công nghệ và kỷ thuật tiên tiến đã thâm nhập vào quá trình sản xuất xã hội của nước ta. Nhiều tập đoàn lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc đả đầu tư vào những ngành kinh tế có hàm lượng kỹ thuật cao như sản xuất ô tô, viễn thông, hóa chất, công nghiệp điện tử… Phần lớn thiết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới nhưng vẫn tiên tiến hơn thiết bị hiện có của ta. Nhờ công nghệ tiên tiến nên đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã. Tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu và cải thiện chất lượng tiêu dùng.

– Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo việc làm cho người lao động trong nước. Tính đến 2003 các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho hơn 400.000 người và hàng trăm lao động phục vụ. Đặc biệt đầu tư trực tiếp đã tạo ra một đội ngũ quản lý có trình độ và kinh nghiệm.

– Đầu tư trực tiếp tạo nguồn thu ngân sách của Chính phủ. Thu ngân sách của Nhà nước từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, FDI ở VN còn có các nhược điểm cụ thể:

– Trong những năm qua, vấn đề nổi cộm mà FDI đưa đến đó là không ít những công nghệ và thiết bị lạc hậu đã bị loại thải được nhập vào VN với giá đắt hơn thị trường từ 10 – 20%.

– Phân bố đầu tư không đồng đều giữa các vùng và các ngành. Vốn đầu tư thường tập trung vào các vùng có ưu thế cơ sở hạ tầng như TP.HCM, Hà Nội, … và vào các ngành có lợi nhuận cao và thời gian thu hổi vốn nhanh.

– Do mục đích của các nhà đầu tư là thu được lợi nhuận cao nên họ luôn tìm cách khai thác lợi thế tương đối của nước chủ nhà. Tại VN lợi thế nhất là giá lao động rẻ. Vì vậy các nhà đầu tư đã khai thác quá mức bằng cách tăng cường độ lao động, cắt xén điều kiện lao động. Từ đó đã xảy ra nhiểu tranh chấp giữa người lao động và chủ đầu tư.

Tư liệu tham khảo:

  • Giáo trình kinh tế quốc tế , GS – TS Hoàng Thị Chỉnh – PGS – TS. Nguyễn Phú Tụ – ThS Nguyễn Hữu Lộc

CHUYÊN ĐỀ SỐ 02:

LẠM PHÁT NĂM 2011

NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG

Nói đến lạm phát thì ít nhiều mọi người đều biết đó là hiện tượng kinh tế xảy ra khi lượng tiền lưu thông trên thị trường nhiều hơn số lượng hàng hóa lưu thông trong trao đổi hay nói ngắn gọn là hiện tượng đồng tiền mất giá. Nỗi lo lạm phát không những luôn là bóng ma ám ảnh các nhà quản lý kinh tế mà còn tác động rất lớn đến đời sống người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp và trung bình. Trong hai năm 2009 và 2010, tỷ lệ lạm phát của VN lần lượt là 6,9% và 10%, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ này tương đối cao. Trên đà tăng đó, bước sang năm 2011, lạm phát cao không chỉ còn là nguy cơ mà nó đang trở thành hiện thực nhức nhối cho các nhà hoạch định chính sách và tạo ra cơn khủng hoảng trong đời sống nhân dân. Để hiểu rõ hơn về hiện trạng lạm phát ở VN và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, sau đây xin mời mọi người hãy cùng tôi tìm hiểu.

NGUYÊN NHÂN

Đầu tiên, chúng ta cần đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến thực trạng lạm phát hiện nay. Khi đề cập đến nguyên nhân gây  lạm phát ở VN, chúng ta cần chia làm hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân sâu xa trong quá khứ và các tác động hiện tại.

Về các nguyên nhân sâu xa thì có hai nguyên nhân chính: thâm hụt cán cân thương mại trong thời gian dài biến VN trở thành nước nhập siêu và bội chi ngân sách dẫn đến việc phát hành thêm tiền.

Như mọi người đều biết, VN chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô (dầu thô, cà phê, tiêu, điều), nông lâm thủy sản (gạo, sắn, cá basa, tôm, các loại gỗ quý…) nhưng lại nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất như sắt thép, phụ liệu thực phẩm, xăng dầu… và các mặt hàng xa xỉ như rượu bia, mỹ phẩm, xe hơi khiến cho cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, lượng ngoại tệ bị đẩy ra nước ngoài. Đặc biệt, VN trở thành nước nhập siêu lớn nhất của  Trung Quốc gia đoạn từ 2007-2010 và đến nay tiếp tục dẫn đầu, chúng ta có thể thấy qua biểu đồ sau:

     Việc nhập khẩu và nhập siêu gia tăng ngày một nhiều, mà chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào đã đẩy giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước lên cao vừa làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa đẩy chỉ số giá tiêu dùng tăng theo dẫn đến nguyên nhân lạm phát. Chúng ta hãy xem thêm báo cáo về hoạt động xuất nhập khẩu của  Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 để thấy cán cân thương mại bị thâm hụt như thế nào

Riêng 4 tháng đầu năm 2011, theo báo cáo, nhập siêu đã vào khoảng 4,897 tỷ USD, tăng hơn cùng kỳ năm ngoái khoảng 5,9%, tương đương tăng thêm 271 triệu USD. Đương nhiên việc nhập siêu gia tăng có tác động đến thị trường ngoại hối và ảnh hưởng đến việc bình ổn tỷ giá. Nhưng ngoài ra, nhập siêu tăng cũng tác động xấu đến tăng trưởng, khi thể hiện sản lượng nền kinh tế đang dưới mức tiềm năng và phải phụ thuộc vào sản lượng từ bên ngoài.

Bên cạnh  thâm hụt cán cân thanh toán, bội chi ngân sách cũng là một nguyên nhân dài hạn khác khiến tình hình lạm phát khó kiểm soát, nhìn vào biểu đồ dưới đây, chúng ta dễ dàng thấy rằng hoạt động bội chi ngân sách trong giai đoạn 2005-2010 của  VN có chiều hướng đi lên:

    Tuy bội chi có giảm trong giai đoạn 2009-2010 nhưng vẫn nằm ở mức hơn 6%, cho thấy việc sử dụng ngân sách chưa hiểu quả. Do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trực thuộc Chính phủ nên trong thời gian qua đã phải phát hành một lượng tiền vào thị trường nhằm giải quyết bội chi ngân sách. Việc phát hành thêm tiền là nguyên  nhân chính dẫn đến lạm phát.

Ngoài các nguyên nhân dài hạn đã trình bày như trên, tình hình lạm phát gia tăng còn chịu nhiều tác động của tình hình trong và ngoài nước giai đoạn cuối năm 2010 đầu năm 2011.

Thứ nhất, tình hình chính trị kinh tế thế giới năm 2010 và đầu năm 2011 có nhiều chuyển biến động xấu, điển hình là tình trạng nợ công ở châu Âu, bạo loạn chính trị ở Bắc Phi và Trung Đông, diễn biến thời tiết có nhiều phức tạp đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các quốc gia mà Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu. Những yếu tố đó đã khiến nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trở nên khan hiếm, đắt đỏ dẫn đến giá thành sản phẩm lên cao.

Thứ hai, để giải quyết tình trạng thiếu hụt ngoại tệ và cân bằng giá trị cán cân thương mại, trong giai đoạn 2010-2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh tỷ giá VND-USD ba lần, đó là vào các thời điểm tháng 8/2010, tháng 2/2011 và tháng 3/2011. Việc điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam này với mong muốn hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu nhưng lại khiến cho tình trạng nhập siêu của Việt Nam ngày càng xấu đi. Cụ thể là, trong 4 tháng đầu năm 2011, giá các loại nhiên liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng đều tăng, trong đó giá điện tăng 1 lần, giá gas tăng 3 lần và giá xăng dầu tăng 2 lần khiến cho giá tất cả các sản phẩm đều tăng theo.

Cuối cùng là chỉ số CPI 4 tháng đầu năm 2011 đều tăng 13,05% so với cùng kỳ, riêng tháng 4/2011, chỉ số CPI tăng 3,32% cao nhất trong ba năm qua. Nếu như chỉ số CPI trong 3 tháng đầu năm tăng thì do yếu tố mùa vụ chính là việc gia tăng tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên Đán thì việc CPI tăng vọt là dấu hiệu báo động cho tình trạng lạm phát ở VN. Trong đó,tất cả các nhóm ngành đều tăng nhưng tăng nhiều nhất vẫn là nhóm hàng thực phẩm và dịch vụ ăn uống.

THỰC TRẠNG

Qua các nguyên nhân dẫn đến lạm phát nói trên, chúng ta hãy cùng xem lạm phát đã ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam

Đầu tiên phải kể đến là việc trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định nâng mức trần lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại đối với Việt Nam đồng lên mức 14%/năm, cao hơn rất nhiều so với khu vực. Và mới đây, con số này đã được nâng lên mức 15%/năm. Với mức lãi suất huy động vốn cao như vậy thì không tránh khỏi lãi suất cho vay đạt mức từ 25%-27%/năm. Từ đó, doanh nghiệp khó lần tiếp cận vốn vay để duy trì và mở rộng sản xuất dẫn đến tình trạng trì trệ sản xuất và nguy cơ phá sản là khá cao. Trong nền kinh tế Việt Nam, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 80%, nếu như các doanh nghiệp này không thể tiếp cận nguồn vốn để sản xuất thì liệu nền kinh tế có thể tăng trưởng được hay không? Hoạt động vay để sản xuất giảm mạnh nhưng vay phi sản xuất, trong đó chủ yếu là vay cho tiêu dùng lại tăng cao như mua xe, xây nhà… dẫn đến đẩy chỉ số chi phí tiêu dùng tăng thêm và dễ dẫn đến vỡ nợ tín dụng. Bên cạnh đó, với mức lãi suất huy động vốn hấp dẫn như vậy cùng với việc các kênh đầu tư trở nên ảm đạm và ẩn chứa nhiều rủi ro do biến động thị trường đã khiến dỏng tiền đổ dồn về ngân hàng khiến các kênh đầu tư như vàng, ngoại tệ, chứng khoán, bất động sản đã kiệt quệ này càng kiệt quệ thêm. Về dài hạn, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều thử thách.

Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam năm 2011 có thể lên đến 15,5% vượt xa mức kế hoạch kiềm chế lạm phát dưới mức 12% của chính phủ Việt Nam. Điều này khiến việc ngăn cản lạm phát càng trở nên khó khăn vì đây là mức dự báo trong hoàn cảnh các điều kiện đều thuận lợi không có biến động lớn. Với mức lạm phát như vậy, đời sống người dân rất khó khăn vì chủ yếu hàng hóa tiêu dùng và nhiên liệu đều phải nhập khẩu, Nhà nước lại đánh thuế nhập khẩu cao nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong nước đã khiến hoạt động tiêu dùng giảm nhưng chỉ số tiêu dùng vẫn tăng. Vào ngày 01/05/2011, Chính phủ Việt Nam đã thông qua quyết định nâng mức lương cơ bản khu vực III lên 850.000 người/tháng nhằm ổn định đời sống nhân dân trước lạm phát nhưng để có thể nâng lương cơ bản thì Ngân hàng Nhà nước lại phải phát hành thêm tiền, mà phát hành thêm tiền thì lại gây ra lạm phát. Việt Nam đang ở thế tiến thoái lưỡng nan và đang cần các chính sách thật sự kịp thời và hiệu quả.

Với các nội dung vừa trình bày ở trên, câu hỏi đặt ra mà chúng ta cần thảo luận bao gồm các vấn đề như sau:

1. Trong Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam năm 2011, của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đưa ra ba kịch bản cho nền kinh tế Việt Nam, liệu trong 2 kịch bản đó thì kịch bản nào là phù hợp nhất, và lợi ích cũng như tác hại của mỗi kịch bản.

2. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách tài khóa và giảm đầu tư công như thế nào cho hiệu quả để giảm bội chi ngân sách và phát hành thêm tiền.

Tư liệu tham khảo:

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2011/01/09/t%E1%BB%95ng-quan-kinh-t%E1%BA%BF-vi%E1%BB%87t-nam-nam-2010-v-khuy%E1%BA%BFn-ngh%E1%BB%8B-cho-nam-2011/

http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/67007/index.aspx

http://vneconomy.vn/20110423082819954P0C19/tang-332-cpi-thang-42011-cao-nhat-3-nam-gan-day.htm

http://vneconomy.vn/20110425030421260P0C10/lai-nhap-sieu-14-ty-usd-tang-truong-dang-chiu-tac-dong-xau.htm

CHUYÊN ĐỀ SỐ 01:

NỢ CÔNG: 2 MẶT, 1 VẤN ĐỀ

Đầu tiên, mình giải thích lý do vì sao chọn chủ đề này làm chuyên đề đầu tiên. Chẳng là một hôm tình cờ nghe được thông tin từ tv về tình trạng khủng hoảng công nợ của đất nước Bồ Đào Nha, rùi sực nhớ lại cách đây không lâu là tình trạng tương tự xảy ra ở đất nước Hy Lạp, Ireland, mình nhận ra đây là một vấn đề hết sức quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn thế giới. Không chỉ thế, kỳ họp quốc hội cách đây không lâu lại nhắc đến tình hình nợ công của nước ta cũng đang trong tình trạng đáng lo ngại. Vì thế, mình đã quyết định chọn chủ đề này để tham luận cùng các bạn.

Nói về nợ công thì chắc hẳn tụi mình đều biết rất rõ rằng đó chính là nợ chính phủ, là khoản chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách mà chúng mình đã có dịp học ở môn tài chính học. Khoản nợ càng lớn tức nghĩa là chi ngân sách đã vượt quá thu ngân sách. Còn đến tình trạng khủng hoảng nợ công thì tức nghĩa là thu ngân sách đã không đủ cung ứng cho các hoạt động chi ngân sách nữa, số nợ lên đến mức khổng lồ, dễ dẫn đến tình trạng vỡ nợ- không có khả năng thanh toán các khoản nợ. Nợ công thì bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài, điều này dễ cắt nghĩa vì ngoài tình trạng vay vốn, huy động vốn từ các nguồn trong nước thì các nguồn ngoài nước cũng là nguồn lợi vay vốn vô cùng to lớn của các nước, các quốc gia. Mỗi quốc gia có thể vay hàng trăm triệu cho đến hàng tỷ usd để phục vụ cho nhu cầu phát triển trong nước của quốc gia mình. Vì thế, đi vay tức là mang nợ, vay càng nhiều nợ càng nhiều, vay quá nhiều không quản lý nổi, không chi trả nổiè khủng hoảng.

Nhắc lại chuyện xưa, chúng ta mới tìm hiểu vì sao Hy Lạp lại khủng hoảng nợ công ? Thông tin trên báo đài cho biết rằng: Hy Lạp phải đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngân sách (vượt 13% GDP năm 2010) và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai (khoảng 9% GDP, so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1%).Sự phụ thuộc quá nhiều của Hy Lạp vào nguồn tài trợ nước ngoài đã khiến cho nền kinh tế nước này trở nên dễ tổn thương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư. Sự nghi ngờ của giới đầu tư lên đến đỉnh điểm khi Cơ quan Thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) công bố ước tính về thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 13,6% GDP – cao hơn hẳn so với con số ước tính được chính phủ Hy Lạp đưa ra trước đó. Hy Lạp đã chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và các quốc gia thành viên Eurozone. Bộ trưởng Tài chính các nước Eurozone đã quyết định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ 110 tỷ euro trong vòng 3 năm 2011-2013 (lãi suất ưu đãi là 5%), trong đó các nước thuộc Eurozone bỏ ra 80 tỷ euro và 30 tỷ còn lại là IMF. Đổi lại, Hy Lạp phải cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 11% GDP (2011) và xuống dưới mức quy định 3% của EU vào năm 2013.

GIải thích rằng: khoản nợ công của Hy Lạp được thống kê bao gồm: chênh lệch giữa thu và chi ngân sách của năm nay vượt hơn thống kê năm 2010 là 13% GDP cùng năm, tình hình giao dịch trong ngoài nước- cán cân thanh toán vãng lại được tổng hợp với số dư bên nợ lớn hơn bên có một lượng > 9% GDP so với cùng kì năm ngoái. Nguyên nhân là do Hy Lạp quá phụ thuộc vào các nguồn tài trợ nước ngoài làm tăng các khoản vay => nợ chồng chất, không có khả năng giải quyết. Vì thế, Hy Lạp đã phải nhờ đến quyền trợ giúp “ Nhờ khán giả trong trường quay” ( Ai là triệu phú) để cứu trợ, đó chính là quỹ tiền tệ thế giới IMF và tổ chức này đã và đang có những động thái tích cực cho việc cứu trợ nền kinh tế khủng hoảng của đất nước này.

Thứ hai, sau Hy lạp là tới đất nước Ireand công nhận công khai rằng đất nước bị khủng hoảng nợ công. Đầu thàng 4 vừa qua, Ireland đã đưa ra các kết quả điều tra mới nhất về các ngân hàng nước này. Ngân hàng Trung Ương Ireland đã lên tiếng yêu cầu trợ giúp từ liên minh châu Âu trong việc kiểm soát chặt chẽ lĩnh vực ngân hàng do chi phí trang trải các khoản nợ lên tới 70 tỷ Euro, tương đương 99 tỷ USD, một con số nợ khổng lồ đối với một đất nước tạo ra 171 tỷ USD một năm. Cuộc khủng hoảng nợ công của Ireland không phải là điều bất ngờ như trường hợp Hy Lạp. Những dấu hiệu báo trước đã xuất hiện khá sớm. Trước tiên, đó là một thị trường bất động sản bong bóng. Trong một thập niên tính đến năm 2007, giá nhà tại Ireland tăng gần gấp 4 lần, thậm chí còn đắt hơn cả những thành phố vẫn được mệnh danh là đắt đỏ trên thế giới như Los Angeles. Khi bong bóng bất động sản vỡ tung đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Và khi chính phủ ra tay cứu trợ ngân hàng – nợ công trở thành gánh nặng cho ngân khố quốc gia.

Giải thích về định nghĩa của thuật ngữ “bong bóng”: Mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi sản phẩm đều có một thị trường của riêng nó. Tình trạng thị trường bong bóng ở đây là khi mọi ánh mắt đều đổ dồn vào một sản phẩm, một lĩnh vực, một ngành nghề nào đó đang theo dạng tiềm năng phát triển mạnh, mọi người đều đổ dồn vào đầu tự vào đó, bong bóng được thổi ngày một to hơn. Không ai để ý đến rủi ro có thể xảy ra, Để rồi khi bong bóng vỡ, tức thị trường mà mọi người đổ dồn vốn liếng đầu tư thực chất không được như mong đợi, mọi người lũ lượt đem bán ra những gì mình đã đầu tư, nhưng liệu lúc đó ai sẽ mua? Chính đều này đã làm thị trường đi xuống nhanh chóng, dẫn đến tình trạng vỡ nợ của nhiều lĩnh vực, ngành nghề.

Ireland đã trở thành quốc gia thứ hai sau Hy Lạp buộc phải thực hiện các biện pháp kinh tế khắc khổ để đổi lấy khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF và EU, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ như giảm ít nhất 10% mức lương tối thiểu, tăng thuế giá trị gia tăng, cắt giảm 25.000 biên chế trong các cơ quan nhà nước…

Đó là những gương đi trước của các quốc gia, đất nước đang còn ngấp nghé trên bờ vực khủng hoảng nợ công. Hy Lạp, Ireland, rùi Bồ Đào Nha,….Hay dự đoán sắp tới là Tây Ban Nha khiến cho con người ta nói riêng và ngay cả mình nói chung tưởng tưởng đến cái viễn cảnh lây lan tình cảnh đó đến các khu vực khác. Không phải nói suông, rất nhiều nhà phân tích đã phân tích và cho rằng viễn cảnh của các nước phát triển khác cũng đáng lo ngại không kém gì các nước đã kể như trên, kể cả Mỹ và một số cường quốc khác. Việt Nam là một nước đang phát triển nhưng tình trạng nợ công cũng đang là mối quan tâm của rất nhiều người khi thực tế đang chứng tỏ điều ngược lại với những con số thống kê “chưa đáng bận tâm” đã được nêu trong các buổi họp của đất nước vừa qua. Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009 nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Sau tháng 6-2009 Việt Nam đã ký thỏa thuận vay và bảo lãnh có giá trị tổng cộng gần 4,5 tỷ USD (1,205 tỷ USD với Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB; 927 triệu USD với Ngân hàng Thế giới; 1,33 tỷ USD với Nhật Bản; và đã phát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế) đó là chưa kể khoản vay 290 triệu USD Nhật Bản vừa ký cho Việt Nam vay giữa tháng 3 này. Nếu giải ngân hết các khoản này thì nợ nước ngoài của Việt Nam có thể tăng lên khoảng 35% GDP. Chưa rõ nợ trong nước của Chính phủ là bao nhiêu. Nhiều người cho rằng nợ công (trong và ngoài nước) của nhà nước Việt Nam đã vượt quá 50% GDP. Thực tế tại mọi buổi họp, những người phát biểu luôn tại ra một viễn cảnh “ màu hồng” cho người nghe, có lẽ là để tránh tình trạng tổ chức biểu tình đình công như nhân dân các nước Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha khi nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu mà có thể gây ra mất trật tự xã hội khó có biện pháp quản lý, thay vào đó là việc tự suy nghĩ hướng giải quyết vấn đề này. Thực chất đối với chúng ta không quan trọng nhưng chúng ta cần phải biết để kịp thời đối mặt với nền kinh tế hiện nay và trong tương lai không xa nữa. Bởi tại sao, việc khủng hoảng này không chỉ xuất phát từ nợ chính phủ cho các chính sách đầu tư phát triển, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mà còn có thể xuất phát từ những doanh nghiệp, những công ty có vốn đầu tư kinh doanh nhà nước hay không có vốn đầu tư kinh doanh nhà nước làm ăn thu lỗ buộc nhà nước phải tìm mọi cách thực hiệc việc cứu vớt cho những “sinh linh lầm than” này, hay nói cụ thể hơn là đi vay nự để bù đắp. Như vụ Vinashin chẳng hạn, cho tới giờ, Vinashin vẫn chưa sụp đổ đấy thui, vẫn tiếp tục hoạt động nhờ chính sách cứu vớt của nhà nước ban cho, khác ở chỗ là đã đổi mới cơ cấu tổ chức. Những doanh nghiệp, công ty đó có thể là nơi chúng ta nương tựa cho bữa cơm, cuộc sống của gia đình mình. Vì thế, không thể nói. Vấn đề này không quan trọng.

Qua những thông tin mà mình đã tổng hợp được và trình bày ở trên, những điều mình muốn tham luận ở đây chính là:

  • Tình trạng nợ công của nhiều nước như Ireland, Bồ Đào Nha hay được dự đoán là Tây Ban Nha tới đây đều có xuất phát từ tình trạng bong bóng  của thị trường bất động sản, tuy đã có tìm hiểu nhưng mình vẫn chưa hiểu lém, BĐS ảnh hưởng như thế nào đến việc tăng nợ công của các quốc gia kể trên?
  • Theo ý kiến chủ quan của mình như ở trên đã nêu, tình trạng Việt Nam cũng không kém phần đáng lo ngại, nhưng nhà nước đã “ ém” không cho việc mất an ninh xã hội diễn ra như các nước bạn( biểu tình)  mà cố gắng đưa ra viễn cảnh tươi đẹp để an lòng dân và tìm cách giải quyết. Vậy vì sao các nước bạn lại không có những động thái như vậy mà đợi đến khi tình trạng trở nên tồi tệ rồi thực hiện chính sách thắt chặt, người dân quen sống tự do nay lại bị gò bó dễ dấn đến tình trạng bất bình, mất trật tự xã hội ắt phải xảy ra.
  • Tham khảo tài liệu từ các chuyên gia, các biện pháp nhằm quả lý nợ công chỉ quanh đi quẩn lại ở việc sử dụng khoản vay hợp lý, đầu tư hợp lý, ổn định tài chính chứng khoán,… chung chung nhất định, liệu những việc làm cụ thể và còn những biện pháp nào khác không?

Đó là một số ý kiến mà mình muốn tham khảo từ các bạn, ngoài ra trong quá trình tham luận, các bạn có thể đặt ra những câu hỏi có liên quan đến vấn đề nhằm khoét sâu hơn vấn đề giúp chúng ta hiểu cặn kẽ hơn lĩnh vực đã nêu. Nói chung mình muốn mọi người hãy năng động tích cực trong việc học tập nghiên cứu để phát triển bản thân cũng như nâng cao trình độ nhóm, cụ thể từ những chuyên đề này.

Nguồn và một số tài liệu tham khảo thêm:
– các trang web của saga,vne và các trang web có liên quan.

–         Một số tài liệu tham khảo thêm:

1)     http://www.baomoi.com/Van-de-no-cong-Nhat-Ban-con-khung-khiep-hon-Hy-Lap/126/5770581.epi

2)     http://vitinfo.vn/Muctin/Quocte/Kinhtetoancau/LA83931/default.htm

3)     http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2011/04/khung-hoang-no-cong-chau-au-de-doa-kinh-te-the-gioi/

4)

Quốc gia Thâm hụt ngân sách 2010(%GDP) Nợ/GDP 2010 Nợ nước ngoài 

(% tổng nợ)

Nợ ngắn hạn 

(%GDP)

Tài khoản vãng lai 

(%GDP

Hy Lạp -12.2 124.9 77.5 20.8 -10
Bồ Đào Nha -8 84.6 73.8 22.6 -9.9
Ireland -14.7 82.6 57.2 47.3 -1.7
Italia -5.3 116.7 49 5.7 -2.5
TBN -10.1 66.3 37 5.8 -6
Anh -12.9 80.3 22.1 3.3 -2
Mỹ -12.5 93.6 26.4 8.3 -2.6
Nguồn: European Commission, World Bank, IMF

Sẽ có chỉnh sửa nếu thấy thiếu sót.

HẾT

CHUYÊN ĐỀ SỐ 01 – NGUYỄN HOÀNG PHÚC

KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ: 22/04/2011

THÔNG BÁO

G8 GROUP

Nhằm chuẩn bị thật tốt cho gia đoạn học tập sắp tới, giai đoạn bắt đầu học những môn chuyên ngành tài chính, đồng thời cũng muốn củng cố lại những kiến thức cơ sở ngành mà chúng ta còn thiếu, cụ thể là những kiến thức cơ bản của bộ môn tài chính học, tiền tệ, v.v.

Nhận thấy rằng chúng ta còn rất mông lung trong việc nhận định những vấn đề thực tế trong xã hội, khó nắm bắt được những thông tin cần thiết thuộc lĩnh vực ngành trên báo , đài, khó hiểu cũng như rất mơ hồ khi tiếp cận tình hình tài chính đang diễn biến hiện nay.

Cảm thấy rằng chúng ta cần chuẩn bị thật tốt để không bở ngỡ trước sự thay đổi mang tính thời sự, thường trực của nền kinh tế, và hơn nữa là có hành trang thật tốt khi bước vào đời sau này. Thời gian đang cận kề . Từng phút, từng giây.

Chính vì thế, hôm nay, mình viết thông báo này nhằm mở đầu một hoạt động mới ở nhóm ta, mong muốn đáp ứng một cách thõa mãn những nhu cầu trên đã nêu, vì bản thân mỗi người và vì tập thể nhóm. Ngoài ra cũng là một cách thay đổi phương pháp học tập để tìm kiếm những điểm số tốt hơn. Nội sung hoạt động cụ thể như sau:

  • Cứ cách 10 ngày (sẽ có điều chỉnh) , mỗi thành vuên trong nhóm sẽ lần lượt post những chuyên đề tài chính lên trang này, tức wordpress của nhóm.

  • Trong khoản thời gian một tuần lễ đó, thành viên post post bài cũng như những thành viên còn lại phải ra sức tìm kiếm thông tin để thỏa mãn nhưng yêu cầu cũng như câu hỏi mà chuyên đề ấy đề ra, giải đáp tất cả những thắc mắc, tất cả những điều không hiểu trong chuyên đề đó ( bao gồm cả thuật ngữ, sự kiện,…).

  • Chuyên đề được viết phải thuộc lĩnh vực ngành mà chúng ta đang học tập, tức lĩnh vực tài chính (vd: đầu tư, cho vay, lãi suất, ngân hàng, tổ chức tài chính, …) mang tính thời sự ( đang diễn ra hoặc dự đoán sắp diễn ra..) hoặc những vấn đề mà những năm học trước chúng ta chưa thật sự nắm bắt.

  • Chuyên đề phải bao gồm nội dung chuyên đề, tức là những thông tin liên quan đến vấn đề được nêu do thành viên post bài tìm kiếm và nghiên cứu, đồng thời phải có cảm nghĩ, suy nghĩ của thành viên post bài về vấn đề được nêu, câu hỏi mà thành viên post bài đưa lên để tham khảo ý kiến của tất cả thành viên còn lại. Cuối chuyên đề phải đề tên của thành viên post bài kèm theo hạn chót kết thúc chuyên đề ( tức + thêm 1 tuần lễ, vd: hum nay 10/04, sau khi post bài phải đề  Kết thúc chuyên đề: ngày 20/04/2011).

  • Khi có chuyên đề, các thành viên còn lại phải tích cực đầu tư nghiên cứu thông tin từ các nguồn khác nhau ( báo, đài, bạn bè, thày cô,..) để tham gia giải đáp vấn đề mà chuyên đề đã nêu ra.

  • Các bài mà các thành viên còn lại post nhằm tham gia chuyên để pải được viết dưới dạng comment cho bài chuyên đề ở trên, không được post bài khác nhằm tránh sự lộn xộn. Các thành viên còn lại sử dụng account này để comment phải điền tên mình vào cuối comment để tiện trong vấn đề giải đáp cũng như xưng hô. Các thành viên sử dụng account khác account này để comment account phải có tên mình hoặc phải điền tên vào cuối comment.

  • Chuyên đề hoàn chỉnh sẽ được tổng hợp lại sau ngày hết thúc chuyên đề 1 ngày thành một file word mang tên chuyên đề bao gồm cả bài viết chuyên đề và bài comment ,sẽ được gửi tới từng thành viên thông qua gmail. Mục đích của việc làm này là để sau này sẽ có điều kiện tham khảo lại cũng như bảo quản tài liệu sử dụng cho các đề tài thuyết trình ở lớp.

Sẽ có điều chỉnh những thông tin cần thiết nếu có thay đổi. Thông báo này được áp dụng bắt đầu từ ngày 11/04/2011 và người đầu tiên post chuyên đề sẽ là mình. mong các thành viên G8 tích cực tham gia để góp phần tăng cường sức mạnh cho nhóm cũng như tạo tiền đề cho công việc tương lai của chúng ta sau này./.

G8 MEMBER: NGUYỄN HOÀNG PHÚC

 

Bổ sung một số thông tin tài liệu mạng thông tin Quốc tế

Mình có tìm hiểu trên web và lọc ra một vài thông tin bổ sung cho tài liệu thi ngày mai, g8 ai cần thì lên down về in nha
link đây:

http://www.mediafire.com/?qen8b2x7e449a22

Phúc

câu 17 mạng thông tin quốc tế

Lừa trong game

Mặc dù là môi trường ảo, nhưng game đang trở thành đích ngắm của giới lừa đảo trực tuyến bởi giá trị của các vật phẩm trong game có thể quy ra tiền thật. Ở Việt Nam, lừa đảo trong game nở rộ và phát triển từ khi xuất hiện “Võ Lâm Truyền Kỳ” (VLTK). Đây là game nhập vai trực tuyến nhiều người chơi nhất tại Việt Nam cách đây hai năm, và kéo dài cho đến tận bây giờ. Trong game VLTK, có những món đồ ảo trị giá tới hàng trăm triệu đồng, có những nhân vật chơi (account) được tính giá hàng chục triệu đồng. Đây là số tiền không nhỏ đối với tất cả mọi người. Chính vì vậy, những kẻ chơi mờ ám đã tung ra không ít chiêu lừa để chiếm đoạt các đồ vật đáng tiền này.

Các hình thức lừa đảo trong game cũng rất đa dạng, từ việc đặt tên nhân vật gần giống với tên của bạn bè (để lừa lấy thông tin khi chat với người chơi) tới việc sử dụng các công cụ chơi tự động (autoplay) miễn phí, tự nhân đôi đồ (dupe đồ), hoặc gửi e-mail tới nạn nhân giả dạng quản trị game yêu cầu người chơi cập nhật thông tin tài khoản. Kết quả là người chơi mất hết các món đồ quý giá, thậm chí cả account cũng bị đánh cắp mà không biết kêu ai. Kiểu lừa này tinh vi đến nỗi khi xảy ra tình trạng mất đồ, người chơi thậm chí còn không biết mình sơ hở ở bước nào, mặc dù đã ý thức được các biện pháp phòng bị. Có những nhân vật cấp cao trong VLTK chỉ hôm trước hôm sau đã bị lột sạch đồ quý mà chủ nhân của chúng chỉ biết kêu trời.

Lừa bán hàng qua mạng

Kiểu lừa đảo phổ biến thứ hai là lừa đảo qua diễn đàn trực tuyến. Với việc người dùng tham gia ngày càng đông vào môi trường Internet, đã không ít diễn đàn trực tuyến lớn được thành lập và có thâm niên hoạt động khá lâu. Đây cũng là môi trường làm ăn đầy thuận lợi của những “siêu” lừa. Nhẹ dạ, cả tin – đó chính là đặc điểm của những nạn nhân kiểu này. Thường thì phi vụ diễn ra khi có một tay lừa đảo nào đó rêu rao trên mạng rằng mình có nhiều mặt hàng (quần áo, giày dép, trang sức, mỹ phẩm…) rẻ và độc đáo “mua từ bển về”. Để tăng thêm phần uy tín, những “chú cuội” này thường có một số vụ làm ăn đàng hoàng để tạo dựng uy tín. Tiếng lành đồn xa, rồi vào một ngày đẹp trời nào đó, với ý định hốt cú chót, “chú” tung tin rằng mình đang có một lô hàng lớn sắp về. Gần như lập tức, giống kiểu hiệu ứng domino, các đơn đặt hàng tới tấp bay về, dĩ nhiên là không quên kèm theo khoản đặt cọc (thường là 70% giá trị món hàng, hoặc có những người tin tưởng trả 100%). Kết quả là tiền “một đi không trở lại”, còn chủ nhân của lời rao trên cũng biến mất không một dấu vết.

Trong một số vụ lừa dạng trên, nếu còn một chút “tử tế” và “lương tâm”, thì kẻ lừa còn gửi trả đồ, nhưng thường là những đồ quá đát, hoặc không đúng như yêu cầu của người mua. Chẳng hạn như quần áo thay vì hàng hiệu thì là đồ tàu, hàng sida; còn mỹ phẩm thường thì đã hết hạn sử dụng, có muốn cũng không dùng được. Điển hình của kiểu lừa qua diễn đàn trực tuyến là vụ lừa đảo chiếm đoạt gần 20 triệu trên diễn đàn TTVNOL cách đây gần hai năm với kịch bản y hệt như mô tả bên trên. Với kiểu lừa này, nạn nhân rất ít có cơ hội được đền bù thỏa đáng bởi mọi chứng cứ đều trên mạng, trong khi khung pháp lý thì chưa đầy đủ. Còn số tài khoản mà bọn lừa đảo cung cấp tuy là thật, nhưng rất có thể đó là những tài khoản đi mượn.

Cũng liên quan tới dạng lừa này, các trang rao vặt trên mạng thường là nơi kẻ lừa đảo “giăng câu” nạn nhân. Cụm từ “treo đầu dê bán thịt chó” rất thích hợp để mô tả kiểu làm ăn này. Hàng trên mạng được trưng bày một kiểu nhưng khi chuyển tới người mua lại là kiểu khác, thường là không đúng với cam kết, hoặc sai về chủng loại, chất lượng. Mua bán hàng qua mạng chủ yếu dựa vào lòng tin, và trong rất nhiều trường hợp, lòng tin này không được đặt đúng nơi, đúng chỗ. Có quá nhiều rủi ro đối với kiểu mua bán bằng lòng tin này.

Lừa qua tin nhắn

Kiểu lừa phổ biến thứ ba chính là lừa qua tin nhắn di động, mà phổ biến là chiếm đoạt tiền từ các tin nhắn ủng hộ người nghèo, đồng bào bị bão lụt, thiên tai; hoặc lừa trúng thưởng tiền, ĐTDĐ… Bản chất của kiểu lừa này không mới, vẫn là nạn nhân nhận được thông báo từ một số tổng đài nào đó cho biết họ đã trúng thưởng, hoặc yêu cầu gửi tin nhắn ủng hộ. Khi nạn nhân gửi tín nhắn phản hồi, tài khoản của họ sẽ bị trừ tiền, mà trên thực tế số tiền mà họ ủng hộ hoặc hứa hẹn nhận được không bao giờ đến nơi, thay vào đó chúng chui vào túi kẻ lừa đảo. Trò lừa này tuy không mới nhưng đã có không ít người trở thành nạn nhân. Phần lớn các nạn nhân đều là thuê bao của các mạng di động phổ biến như Mobifone, Vinaphone, Viettel… Kiểu lừa qua tin nhắn phổ biến từ cuối năm 2006 và xuất hiện rải rác trong năm 2007.

Cũng là lừa đảo qua tin nhắn, nhưng là tin nhắn tức thời (IM) qua mạng Internet, kiểu lừa này thường dụ dỗ nạn nhân tiết lộ thông tin cá nhân, chẳng hạn như số tài khoản, mật khẩu, hoặc những thông tin liên quan tới công việc. Kẻ lừa đảo thường lập một nick chat gần giống với tên bạn bè của nạn nhân để lừa. Ví dụ, lấy nick “hungvvt02” để gần giống với nick “hungwt02”. Nếu người dùng không để ý, cứ tưởng đó là người bạn thân mình vẫn chat hàng ngày, để rồi vô tư tiết lộ các thông tin mật khác, chẳng hạn như mật khẩu quản trị diễn đàn, website… Kết quả các thông tin này sẽ giúp kẻ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nạn nhân.

Một dạng lừa rất phổ biến khác qua IM đó là những đường link virus, trojan, mà virus “gaixinh” là một ví dụ. Kịch bản của kiểu lừa này như sau: kẻ lừa đảo upload virus lên một đường link tạm thời nào đó, sau đó dùng công cụ phát tán tin nhắn tới YM của nạn nhân. Khi nhấn vào các đường link chứa virus này, máy tính nạn nhân ngay lập tức sẽ bị lây nhiễm, rồi sau đó tùy theo chức năng của từng con virus, nhưng phần lớn đều có chức năng đánh cắp thông tin trên máy tính rồi gửi về cho tác giả của chúng. Hậu quả của dạng lừa này là máy tính bị nhiễm virus, thông tin bị đánh cắp, máy tính bị lợi dụng để phát tán thư rác, tấn công từ chối dịch vụ (DoS)…

Lừa qua e-mail

Cũng với tác hại tương tự như kiểu lừa người dùng nhấn vào đường link YM, lừa qua e-mail tuy đã xuất hiện từ rất lâu nhưng xem ra vẫn là kênh lừa đảo hữu hiệu của tin tặc. Với tốc độ phát tán khủng khiếp của thư rác (spam) hiện nay, người dùng rất khó tránh khỏi cạm bẫy này nếu không cảnh giác. Có những e-mail tưởng như được gửi từ một người quen, nhưng thực ra lại không phải vậy. Rồi còn có những e-mail với lời lẽ ngọt ngào, đầy tin cậy để dụ người dùng nhấn vào file đính kèm (thực ra là một con virus). Rồi có những e-mail thông báo người dùng trúng giải thưởng nào đó, đại loại như: “Chúc mừng bạn đã trở thành người thứ 10 triệu sử dụng dịch vụ của chúng tôi, để nhận được giải thưởng, bạn cần gửi phí nhận giải tới số tài khoản…”. Nếu gửi tiền đi, chắc chắn bạn sẽ trở thành nạn nhân của kiểu lừa xưa như diễm này.

Người dùng cần phải cảnh giác!

Để không bị lừa, hoặc hạn chế tác hại của những kiểu lừa đảo trên, người dùng phải cảnh giác và thực sự hiểu biết. Không được mở bất cứ e-mail không rõ nguồn gốc nào, hoặc mở các file đính kèm nghi ngờ trong mail. Với những tin nhắn IM mặc dù được gửi từ nick chat của bạn bè (máy tính đó đã bị nhiễm virus) nhưng có kiểu thông báo như: “trang này hay quá, vào đây xem đi”; hoặc “ảnh này đẹp quá”; hoặc “buồn cười quá”…; kèm theo đó là một đường dẫn đầy nghi ngờ thì bạn cũng không nên nhấn vào. Tốt nhất là hãy IM hỏi lại người đã gửi tin nhắn đó, nếu được xác nhận lại thì mới nhấn vào đường dẫn.

Với những tác hại đã được cảnh báo, thiết nghĩ người dùng nên cân nhắc kỹ mỗi khi nhấn vào một đường link nào đó, hoặc khi khai báo thông tin cá nhân liên quan tới tài chính, thông tin nhạy cảm trên mạng.

câu 1 mạng thông tin quốc tế

Địa chỉ IP được viết dưới dạng Số.Số.Số.Số
Mỗi số là 1 byte = 8 bits
1 byte dao động từ 0 -> 255

Quy tắc đặt IP trong mạng Lan
Lớp A: 10.x.x.x
x: là số dao động từ 0 -> 255 (nếu x> 255 là ip ko hợp lệ)
ko được lấy ip 10.x.x.0 và 10.x.x.255 đặt cho máy
10.x.x.1 -> 10.x.x.254 : những ip nằm trong dãy này là ip hợp lệ
10.x.x.256 trở về sau (x > 255) : là những ip ko hợp lệ

Lớp B: 172.16.x.x
x: là số dao động từ 0 -> 255 (nếu x> 255 là ip ko hợp lệ)
ko được lấy ip 172.16.x.0 và 172.16.x.255 đặt cho máy
172.16.x.1 -> 172.16.x.254 : những ip nằm trong dãy này là ip hợp lệ
172.16.x.256 trở về sau (x > 255) : là những ip ko hợp lệ

Lớp C: 192.168.x.x
x: là số dao động từ 0 -> 255 (nếu x> 255 là ip ko hợp lệ)
ko được lấy ip 192.168.x.0 và 192.168.x.255 đặt cho máy
192.168.x.1 -> 192.168.x.254 : những ip nằm trong dãy này là ip hợp lệ
192.168.x.256 trở về sau (x > 255) : là những ip ko hợp lệ

==> Nói chung :
x > 255 là ko hợp lệ
Ip trong mạng Lan phải bắt đầu bằng những số 10 – 172.16 – 192.168 thì mới hợp lệ

MEMS G8

Quên nữa phải giới thiệu thành viên nhóm mình ^^,từ trái sang phải từ trên xuống dưới nha:

– Tô Mai Trúc.

– Nguyễn Hoàng Phúc.

– Ngô Vũ Bích Trâm.

– Lê Đăng Kha.

– Trả Thi Hoàng Anh.

– Nguyễn Đức Vân Anh.

– Nguyễn Mai Quốc Dũng.

– Nguyễn Hải Long.

FIRST ENTRY FOR OUR BLOG !!

Hôm nay,đánh dấu sự ra đời header trang blog của G8,mình đăng bài này lên coi như mở hàng tài khoản cũng như nói đôi điều:

– Thứ nhất, HAPPY NEW YEAR 2011,một năm mới an lành hạnh phúc sẽ đến với tất cả các mem G8 cũng như tất cả mọi người.

– Thứ hai, xin chúc tất cả các mem G8 sẽ đạt  thành công rực rỡ trên con đường của mình sau này,dù cho sau này có lâu thế nào mới gặp nhau,mong rằng tất cả vẫn nhớ mình là 1 mem G8.

….Hết biết nói gì rùi………câu cuối: GOOD LUCK TO YOU(S)

This slideshow requires JavaScript.

Bữa nào rãnh post nữa,h đuối quá ^^

Hello world!

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!